Soạn bài: Truyện Kiều Phần 2 – Nỗi thương mình

Xin chào các em! Và tiếp tục, trong chuyên mục soạn văn ngày hôm nay, Soạn Văn sẽ hướng dẫn các em soạn văn bản: Nỗi thương mình. Đây là một trích đoạn trong kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du và được biên soạn trong chương trình SGK Ngữ Văn 10 Tập 2. Mời các em cùng tham khảo để chuẩn bị thật tốt cho bài giảng trên lớp của thầy, cô giáo nhé!

I. Tìm hiểu chung

* Vị trí đoạn trích: đoạn trích Nỗi thương mình được trích từ câu 1229 đến câu 1248 nói về tình cảnh và tâm trạng của Kiều ở chốn lầu xanh.

* Bố cục: Đoạn trích có thể được chia làm 3 phẩn:

  • Phần 1: 4 câu thơ đầu: giới thiệu khái quát về cuộc sống ở lầu xanh và cuộc sống trớ trêu của Kiều.
  • Phần 2: 8 câu thơ tiếp: Niềm thương xót cho thân phận của Kiều khi phải sống trong cảnh cay đắng và nhơ nhuốc ở lầu xanh.
  • Phần 3: còn lại: Cảnh đẹp, thú vui nhưng lòng người buồn bã, cô đơn.

II. Hướng dẫn soạn  bài

Câu 1:

Bố cục của đoạn trích như trên.

Câu 2:

* Bút pháp ước lệ trong đoạn trích có ý nghĩa đối với việc diễn tả thân phận éo le của nàng Kiều: bút pháp ước lệ được sử dụng với các hình ảnh ẩn dụ như: “bướm lả ong lơi”, “lá gió cành chim”, hay điển tích, điển cố như Tống Ngọc, Trường Khanh, mưa Sở, mây Tần. => Miêu tả chốn bụi trần dơ bẩn nhưng câu thơ vẫn trang nhã mà không hề thô tục.

* Qua đó, ta có thể thấy tình cảm của tác giả đối với nhân vật là thái độ trân trọng đầy cảm thông, tác giả luôn muốn giữ cho nhân vật của mình một chân dung thanh cao, sáng ngời, không bị hòa tục với những bụi trần dơ bẩn kia.

Câu 3:

Các dạng thức đối xứng khác nhau được sử dụng trong đoạn trích và giá trị nghệ thuật của chúng:

* Đối xứng trong 4 chữ: bướm lả >< ong lơi, lá gió >< cành chim, dày gió >< dạn sương, bướm chán >< ong chường, mưa Sở >< mây Tần, gió tựa >< hoa kề. => Góp phần làm nổi bật thân phận bẽ bàng của người kĩ nữ và cảm giác đau đớn, xót xa của nhân vật.

* Tiểu đối trong khuôn khổ 1 câu thơ: Khi tỉnh rượu >< lúc tàn canh, Nửa rèm tuyết ngậm >< bốn bề trăng thâu. => Nhấn mạnh sự liên tục, kéo dài của sự vật và cái mênh mông của không gian.

* Đối xứng giữa 2 câu lục bát với nhau:

  • Khi sao phong gấm rủ là >< Giờ sao tan tác như hoa giữa đường: đối lập gay gắt giữa quá khứ êm đẹp và hiện tại đầy nghiệt ngã.
  • Mặt sao dày gió dạn sương >< Thân sao bướm chán ong chường bấy thân: nhấn mạnh có ý so sánh: nỗi đau về sự nhơ nhuốc của thân thể còn đau khổ hơn là sự bẽ bàng chua chát trên vẻ mặt.
  • Mặc người mây Sở, mưa Tần >< Những mình nào biết có xuân là gì?: đối lập mang ý nghĩa so sánh giữa người và chính mình.

=> Tạo nên cho người đọc cái nhìn đa chiều về nỗi niềm thương thân xót phận của nhân vật.

Câu 4:

“Nỗi thương mình” của nhân vật có ý nghĩa mới mẻ đối với văn học trung đại:

Như chúng ta đều biết, văn học trung đại thường đề cao cái “ta” mà ít khi nói đến cái “tôi” cá nhân. Do vậy, “nỗi thương mình” ở đây có ý nghĩa mới mẻ là sự đột phá của cái “tôi” cá nhân. Đặc biệt hơn khi đó là tiếng lòng của người phụ nữ phong kiến, một thân phận gắn với nhiều lễ giáo và bất công. Đây là một sắc thái hoàn toàn mới về sự tự ý thức của con người.

Câu 5:

Trong cuộc tái ngộ, Kim Trọng nói với Kiều:

Như nàng lấy hiếu làm trinh

Bụi nào cho đục được mình ấy vay?

Đoạn trích Nỗi thương mình góp phần lí giải câu nói trên của Kim Trọng: Mặc dù vì chữ “hiếu” với cha mẹ mà Kiều đã phải hi sinh cả sự trinh trắng của một người con gái, phải trải qua nhiều thăng trầm, biến cố. Nhưng tâm hồn, nhân cách và phẩm giá của nàng vẫn luôn thanh cao, không hề bị vẩn đục giữa dòng đời nhem nhuốc bụi trần. Và Nỗi thương mình chính là đoạn trích diễn tả được sự thanh cao đó của Kiều trong chốn lầu xanh dơ bẩn.