1081 lượt xem

Soạn bài: Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử – Ngữ văn 6 Tập 2

Xin chào các em! Trong chương trình Ngữ văn 6 Tập 2 có một văn bản nhật dụng rất hay, tái hiện lịch sử hào hùng của dân tộc ta. Hôm nay, Soạn Văn sẽ hướng dẫn các em soạn bài: Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử. Hi vọng với bài soạn này, các em có thể tham khảo để chuẩn bị cho buổi tiếp thu bài giảng trên lớp thật hiệu quả nhé!

I. Về thể loại

Văn bản Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử thuộc kiểu văn bản nhật dụng. Xét về tính chất, văn bản nhật dụng đề cập những yếu tố gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống hằng ngày của con người và xã hội đương đại như thiên nhiên, môi trường, dân số, sức khỏe, quyền trẻ em, hiểm họa, ma túy,…

Văn bản nhật dụng sử dụng đa dạng các phương thức biểu đạt. Có thể là bút kí, phóng sự, ghi chép, thư tín,…

II. Tóm tắt

Văn bản Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử giới thiệu chủ yếu về cây cầu Long Biên bắc qua sông Hồng, được xây dựng từ thời Pháp thuộc. Chính vì thế, cầu Long Biên như một nhân chứng sống động, đau thương và anh dũng của thủ đô Hà Nội. Cầu đã chứng kiến cảnh khổ cực của người dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, những năm tháng hòa bình ở miền Bắc sau năm 1954 và cả những năm tháng chống Mĩ cứu nước gian khổ của dân tộc ra. Bây giờ, bắc qua sông Hồng đã có thêm cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, có lẽ cầu Long Biên đã rút về vị trí khiêm nhường. Nhưng đối với tác giả nói riêng, đối với toàn thể nhân dân Việt Nam nói chung, cầu Long Biên vẫn còn nhiều ý nghĩa.

III. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Văn bản có thể được chia làm 3 đoạn:

  • Đoạn 1: từ đầu => “nhân chứng sống động, đau thương và anh dũng của thủ đô Hà Nội”: Giới thiệu chung về cầu Long Biên qua một thế kỉ tồn tại
  • Đoạn 2: tiếp => “vẫn dẻo dai, vững chắc”: Cầu Long Biên như một nhân chứng sống động, đau thương và anh dũng.
  • Đoạn 3: còn lại: Khẳng định ý nghĩa lịch sử của cầu Long Biên trong xã hội hiện đại  và trong cảm nghĩ của tác giả.

Câu 2:

*  Đoạn văn “Cầu Long Biên từ khi mới khánh thành” cho đến “bị chết trong quá trình làm cầu” cho chúng ta biết những thông tin tương đối cụ thể về cây cầu Long Biên: tên gọi, chiều dài cầu, trọng lượng cầu, mối quan hệ giữa sự xuất hiện của cầu và đời sống lịch sử – xã hội, qua đó khẳng định vai trò “chứng nhân lịch sử” của cây cầu Long Biên.

* So sánh với tư liệu được cung cấp qua hai đoạn Đọc thêm về cầu Chương Dương và cầu Thăng Long thì về quy mô và tính chất hiện đại, cầu Long Biên không bằng hai cây cầu trên, nhưng nó có vai trò quan trọng về nhiều năm trong suốt gần 1 thế kỷ trước khi hai cây cầu trên được xây dựng.

Câu 3:

Đoạn văn từ “Năm 1945” đến “nhưng vẫn dẻo dai, vững chắc”.

a) Những cảnh vật và sự kiện đã được ghi lại:

  • Màu xanh của bãi mía, ngô, nương dâu, vườn chuối
  • Buổi chiều, đèn mọc như sao
  • Nhìn xuống cầu nhớ đoàn quân bí mật ra đi năm 1946
  • Nhìn lên bầu trời, nhớ lại những năm tháng oanh liệt giặc Mĩ ném bom xuống Hà Nội.
  • Những ngày nước dâng cao, sông Hồng đỏ rực cuồn cuộn chảy, cầu như võng đung đưa,…

Những cảnh vật và sự việc đó đã cho chúng ta biết trước nhiều sự kiện lịch sử:

  • Những ngày giặc Mĩ ném bom và cây cầu bao lần chịu thương tích
  • Đoàn quân ra đi năm 1946
  • Đối chọi với những trận lũ lụt hung dữ của dòng sông Hồng

b) Việc trích dẫn bài thơ và lời một bản nhạc trong đoạn văn có tác dụng gây ấn tượng mạnh mẽ, chân thực và cụ thể về một sự kiện lịch sử mà cầu Long Biên chính là một nhân chứng sống.

c) Cách kể ở đoạn này bộc lộ được tình cảm của tác giả một cách rõ ràng và tha thiết hơn so với đoạn trên:

  • Về ngôi kể: nếu ở đoạn văn trước, tác giả sử dụng ngôi thứ 3 để kể, thì ở đoạn này, tác giả trực tiếp xưng “tôi” (ngôi thứ nhất)
  • Về phương thức biểu đạt: ở đoạn trước, tác giả chủ yếu sử dụng phương thức thuyết minh
  • Về từ ngữ: ở đoạn văn này, tác giả sử dụng những từ ngữ có sắc thái biểu cảm mạnh mẽ hơn như: nhớ như in, trang trọng, nằm sâu trong trí óc, say mê ngắm nhìn, yêu thương, quyến rũ, khát khao, bi thương, hùng tráng, nhói đau, oanh liệt, oai hùng, thân thương, tả tơi, ứa máu,…

Câu 4:

a) * Tác giả đặt tên cho bài văn là Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử và không thể thay thế từ “chứng nhân” bằng từ “chứng tích” bởi vì cách dùng từ “chứng nhân” là dùng thủ pháp nhân hóa. Cách nhân hóa này đã đem lại linh hồn, sự sống cho sự vật vô tri vô giác. Cầu Long Biên trở thành “người đương thời” của bao thế hệ, như nhân vật bất tử chịu đựng, nhìn thấy, xúc động trước bao đổi thay, bao nỗi thăng trầm của thủ đô, của đất nước và của người dân Việt Nam.

* Những sự kiện lịch sử mà cầu Long Biên đã chứng kiến:

  • Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp với sự kiện lịch sử vào mùa đông năm 1946 khi Trung đoàn thủ đô rút khỏi Hà Nội hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ.
  • Năm 1972, cầu Long Biên bị giặc Mĩ trút bom đánh phá

Như vậy, cầu Long Biên đã chứng kiến lịch sử dân tộc trong một khoảng thời gian không được gọi là dài nhưng lại là khoảng thời gian lịch sử đau thương và chứa nhiều biến đổi nhất. Chính vì thế, có thể nói cầu Long Biên chính là nhân chứng sống động, đau thương và anh dũng của lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung và thủ đô Hà Nội nói chung.

b) So sánh câu cuối bài văn với câu rút gọn: “Còn tôi, tôi cố gắng truyền tình yêu cây cầu vào trái tim họ, để du khách ngày càng xích lại gần với đất nước Việt Nam”. Câu cuối của bài văn tuy dài hơn nhưng có sắc thái biểu cảm rõ hơn nhờ cách diễn đạt gợi những liên tưởng thú vị.

Nhịp cầu bằng thép của cầu Long Biên lại có thể trở thành nhịp cầu vô hình nối những con tim là bởi vì cầu Long Biên là chứng nhân lịch sử sống động, đau thương và anh dũng của người Việt Nam khiến du khách nước ngoài phải “trầm ngâm”, đứng ở nhiều góc độ, ghi lại hình ảnh chiếc cầu mỗi khi đến thăm nơi đây.

Soạn bài: Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử – Ngữ văn 6 Tập 2
4.9 (97.7%) 183 vote[s]

Bài Liên Quan